Thursday, January 6, 2022

Giá Tôm Thẻ 06/01/2022 (Miền Tây)

Giá Tôm Thẻ, Giá Tôm Sú - Ngày 06/01/2022

Giá Tôm Thẻ kiểm kháng sinh khu vực Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre. Giá Tôm Sú Oxy Bạc Liêu, Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Trà Vinh...

THÔNG TIN CẬP NHẬT GIÁ TÔM THẺ TÔM SÚ ĐBSCL

Về thị trường giá thủy sản hôm nay 06/01/2022, giá tôm thẻ kks và oxy 03/01/2022 khu vực Sóc Trăng, Bạc Liêu:
Giá tôm thẻ kiểm kháng sinh size 20 con giá 240.000 đồng/kg +-10k
Size 25 con giá 185.000 đồng/kg +-5k
Size 30 con lớn giá 170.000 đồng/kg +2k
Size 30 con nhỏ giá 168.000 đồng/kg -2k
Size 40 con giá 148.000 đồng/kg +-1k
Size 50 con giá 136.000 đồng/kg +-1k
Size 60 con giá 126.000 đồng/kg +-500
Size 70 con giá 122.000 đồng/kg +-500
Size 80 con giá 116.000 đồng/kg +-500
Size 100 con giá 97.000 đồng/kg +-300
Liên hệ: 0979257767

Giá tôm sú oxi vs dập đá 05/01/2022 khu vực Bạc Liêu:
20c lớn 275k +5. Dập đá 250k
20c nhỏ 265k -5. Dập đá 240k
30c lớn 215k +2. Dập đá 200k
30c nhỏ 205k -2. Dập đá 190k
40c lớn 175k +1. Dập đá 170k
40c nhỏ 165k -1. Dập đá 160k
Liên hệ: 0945499447

Giá tôm sú thẻ oxy 06/01/2022 khu vực Sóc Trăng:
Giá tôm sú thẻ size 20c 250/260
30c 215/205
40c 170/180
Liên hệ: 0358206954

Giá tôm thẻ oxy luộc đỏ và đạt kháng sinh 04/01/2022 khu vực Bến Tre:
Giá tôm thẻ oxy size 50c 145k
60c 140k
70c 125k
Liên hệ: 0975363765

Giá tôm thẻ 05/01/2022 kiểm kháng sinh, giá ao bạc khu vực Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau:
Giá tôm thẻ size 20c 240k+-10k
25c 187k+-7k
30c 168k+-2k
40c 148k+-1k
50c 137k+-1k
60c 126k+-500₫
70c 120k+-500₫
80c 112k+-500₫
100c 95k+-500₫
Liên hệ: 0919781835

Giá tôm thẻ kks 11/11 khu vực Bạc Liêu:
Giá tôm thẻ size 30c lớn 170k +2
30c nhỏ 167k -2
40c 147k +1-2
50c 133k +-1
60c 124k +-500
Giá tôm sú oxi 11/11 ưu tiên khu vực Bạc Liêu:
Giá tôm sú oxi size 30 con lớn giá 210.000 đồng/kg
Giá tôm sú oxi size 30 con nhỏ giá 200.000 đồng/kg
Giá tôm sú oxi size 40 con lớn giá 170.000 đồng/kg
Giá tôm sú oxi size 40 con nhỏ giá 160.000 đồng/kg
Giá tôm sú oxi size 50 con giá 145.000 đồng/kg
Liên hệ: 0915434635

Giá tôm thẻ chân trắng ao bạc 05/01/2022 khu vực Cà Mau, Bạc Liêu:
(Kiểm Kháng Sinh) Tôm thẻ size 20 con lớn giá 240.000 đồng/kg (+10.000₫)
Size 20 con nhỏ đang có giá 240.000 đồng/kg (-10.000₫ tới 22,01c)
Size 25 con lớn đang có giá 192.000 đồng/kg (+6.000₫ tới 22,01c)
Size 25 con nhỏ thu mua với giá 186.000 đồng/kg (-5.000₫ tới 26c)
Size 30 con lớn có giá 169.000 đồng/kg (+2.000₫)
Size 30 con nhỏ có giá 169.000 đồng/kg (-2.000₫)
Size 40 con đang có giá 149.000 đồng/kg (lớn: +1.000₫; nhỏ: 149.000 đồng/kg -2.000₫)
Size 50 con lớn có giá 137.000 đồng/kg (+1.000₫)
Size 50 con nhỏ có giá 137.000 đồng/kg (-1.000₫)
Size 60 con đang thu mua với giá 126.000 đồng/kg (lớn: +500₫; nhỏ: 126.000 đồng/kg -500₫ tới 65c)
Size 70 con có giá 120.000 đồng/kg (+-500₫ tới 75c)
Size 80 con có giá 111.000 đồng/kg (+-500₫ tới 90c)
Size 100 con giá 100.000 đồng/kg (+-200₫)

(Bắt Màu) Tôm thẻ size 40 con nhỏ đang có giá 147.000 đồng/kg -2.000₫
Size 50 con lớn thu mua với giá 136.000 đồng/kg +1.000₫
Size 50 con nhỏ thu mua với giá 137.000 đồng/kg -1.000₫
Size 60 con có giá 125.000 đồng/kg +-500₫
Size 70 con có giá 118.000 đồng/kg +-500₫ tới 75c
Size 80 con có giá 110.000 đồng/kg +-500₫ tới 85c
Size 100 con lớn đang có giá 101.000 đồng/kg +200₫
Size 100 con nhỏ đang có giá 101.000 đồng/kg (-1c 200₫ tới 130c)
Size 150 con lớn đang có giá 90.000 đồng/kg +-200₫
Size 150 con nhỏ đang có giá 88.000 đồng/kg (-1c 200₫ tới 170c)
Size 200 con lớn có giá 72.000 đồng/kg +200₫
Tôm thẻ size 200 con nhỏ có giá 68.000 đồng/kg -300₫
Liên hệ: 0868.06.7777

Giá tôm sú dập đá 30/9 khu vực Ba Tri (Bến Tre):
Giá tôm thẻ size 30c lớn 185k +2k
30c nhõ 175k -2k
40c lớn 155k +1k
40c nhỏ 145k -1k
50c 130k +-1k
60c 120k +-1k
70c 110k +-1k
100c 90k+-500đ
Liên hệ: 0915933334

Giá sú và thẻ oxi 29/12 khu vực Bạc Liêu:
         Sú                                  Thẻ
20c lớn 280k +5.        30c lớn 180k +3
20c nhỏ 270 -5.          30c nhỏ 175k -3
30c lớn 220k +2.         40c lớn 160+1
30c nhỏ 210k-2.          40c nhỏ 157-1
40c lớn 175k +1
40c nhỏ 165k -1
Liên hệ: 0943211494

Giá tôm thẻ Oxy 21/12 khu vực Ba Tri - Bình Đại - Thạnh Phú (Bến Tre):
Giá tôm thẻ oxi size 30c 200k ao bat day
30c 185k ao dat
40c 164k
50c 144k
Liên hệ: 0335550163

Giá tôm thẻ kks 04/01/2022 khu vực Bạc Liêu, Sóc Trăng:
20c 240k +_10k 1con đến 22c
25c lớn 192k +5k
25c nhỏ 187k -5k đến 26c
30c lớn 170k +2k
30c nhỏ 168k -2k
40c lớn 150k +1k
40c nhỏ 148k -1k
50c 138k +_k
60c 128k +-500d
Liên hệ: 0948171794

Giá tôm thẻ ao đất 25/12 khu vực Bình Đại (Bến Tre):
20c 245k
25c 195k
30c 185k
40c 163k
Liên hệ: 0907305881

Giá tôm thẻ ao bạt bắt ngang 05/01/2022 khu vực Sóc Trăng, Bạc Liêu:
40c 154k về lớn 150k về nhỏ
50c 142k về lớn
50c 142k oxy luộc về nhỏ
60c 132k oxy
70c 126k oxy 
80c 117k oxy
100c 100k oxy
Liên hệ: 0962676593

Giá tôm thẻ kks kiểm kháng sinh 04/01/2022 khu vực Cà Mau:
DNTN LÊ ĐIỀN (0919326242)
Đạt Kháng Sinh (giá mua tại ao)
20c 242(+-10)   Mua oxy không cần kks
25cL 187(+5)            bắt đường xe
25cn183(-5)
30c 169(+-2)               30c 180(+2)                                
40c 148(+1-2)             
50c 137(+-1)   
60c 126(+-500)
70c 120(+-500)
80c 109(+-500)
90c  105(+-500)
Thẻ bắt ngang màu xanh kị nâu đỏ,đẹp, đều 
100c98(mua từ 90 đến150c )
200c70(mua từ 150c đến 250c)


Giá tôm thẻ kks 06/01/2022 khu vực Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau:
20c-240k +-10k
25c-188k, về nhỏ 183k +-5k
30c-169k +-2k oxi 175k
40c-148k +-1k
50c-138k +-1k
60c-128k +-500d
70c-121k +-500d
100c-100k +300d-500d, oxi chợ
Giá tôm sú ôxi, chợ bắt trong ngày 06/01/2022 khu vực Sóc Trăng, Bạc Liêu:
Oxi chợ                     oxi hẹn 3 ngày
20c lớn 250k +5k     275k
20c nhỏ 240k+-5k    265k
30c lớn 200k +2k     215k
30c nhỏ 190k -2k     205k
40c lớn 170k +1k     180k
40c nhỏ 160k -1k
50c 145k +-1k
60c 135k +-1k
70c 125k +-1k
100c 95k+-500đ
Liên hệ: 0793652820

Giá tôm thẻ dập đá kks 17/12 khu vực Bạc Liêu:
20c 245k
25c lớn 190k - 24c về lớn 195k
25c nhỏ 187k
30c lớn 170k
30c nhỏ 168k
40c 151k
50c 140k
60c 130k
70c 125k
100c 104k +300đ
Liên hệ: 0914881769

Giá cá tra thịt tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long hôm nay điều chỉnh ở mức 23.500-24.000 đồng/kg, giá cá tra giống ở mức 29.000-30.000 đồng/kg size 30-35 con. Giá cá lóc thịt từ 32.000-33.000 đồng/kg (>600gr), cá lóc giống size 500-700 con/kg giá 250-270 đồng. Giá ếch thịt tăng cao ếch thịt giá 42.000-43.000 đồng/kg. Giá cá trê vàng tại khu vực Đồng Tháp có giá cao từ 49.000-50.000 đồng/kg (loại cá thịt 6-7 con/kg). Giá cá rô tại Cần Thơ, Hậu Giang đang có giá tăng từ 25.000-26.000 đồng/kg (loại cá thịt 3-5 con/kg). Cá thát lát thịt (2-3 con/kg) giá tăng mạnh từ 49.000-50.000 đồng/kg, cá thát lát giống (200 con/kg) giá 1.400 đồng/con.

Giá tôm nguyên liệu tuần 03/01/2022 - 09/01/2022

TÊN MẶT HÀNG ĐƠN GIÁ ĐƠN VỊ TÍNH NGÀY BÁO GIÁ ĐỊA PHƯƠNG
Tôm thẻ 100 con/kg 100.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 80 con/kg 114.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 70 con/kg 121.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 60 con/kg 128.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 50 con/kg 138.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 40 con/kg 148.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 30 con/kg 169.000 – 175.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 25 con/kg 183.000 – 188.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 20 con/kg 240.000 đồng/kg 1/6/2022 Bạc Liêu
Tôm thẻ 100 con/kg 100.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 80 con/kg 111.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 70 con/kg 120.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 60 con/kg 126.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 50 con/kg 137.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 40 con/kg 149.000 – 150.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 30 con/kg 169.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 25 con/kg 186.000 – 192.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 20 con/kg 240.000 đồng/kg 1/6/2022 Cà Mau
Tôm thẻ 100 con/kg 100.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 80 con/kg 117.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 70 con/kg 121.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 60 con/kg 128.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 50 con/kg 138.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 40 con/kg 150.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 30 con/kg 169.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 25 con/kg 188.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 20 con/kg 240.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm sú loại 40 con/kg 170.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm sú loại 30 con/kg 215.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm sú loại 20 con/kg 275.000 đồng/kg 1/5/2022 Sóc Trăng
Tôm thẻ 100 con/kg tại ao 98.000 đồng/kg 1/5/2022 Trà Vinh
Tôm thẻ 80 con/kg tại ao 112.000 đồng/kg 1/5/2022 Trà Vinh
Tôm thẻ 50 con/kg tại ao 138.000 đồng/kg 1/5/2022 Trà Vinh
Tôm thẻ 100 con/kg 100.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 80 con/kg 110.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 70 con/kg 118.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 60 con/kg 127.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 50 con/kg 137.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 40 con/kg 157.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 30 con/kg 177.000 đồng/kg 1/5/2022 Long An
Tôm thẻ 100 con/kg tại ao 129.000 đồng/kg 1/4/2022 Quảng Ninh
Tôm thẻ 80 con/kg tại ao 150.000 đồng/kg 1/4/2022 Quảng Ninh
Tôm thẻ 50 con/kg tại ao 200.000 đồng/kg 1/4/2022 Quảng Ninh
Tôm sú loại 30 con/kg 200.000 – 210.000 đồng/kg 1/4/2022 Trà Vinh
Tôm sú loại 25 con/kg 230.000 đồng/kg 1/4/2022 Trà Vinh
Tôm sú loại 20 con/kg 280.000 đồng/kg 1/4/2022 Trà Vinh


Hướng dẫn khung lịch mùa vụ thả giống nuôi tôm nước lợ năm 2022

Tổng cục Thủy sản đề nghị các địa phương căn cứ vào khung mùa vụ chung và tình hình thực tế ở từng địa phương để xây dựng lịch mùa vụ thả giống nuôi tôm nước lợ cụ thể, phù hợp cho từng vùng sinh thái trên địa bàn.
Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, tháng 1/2022, nhiệt độ trên phạm vi cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm (TBNN) khoảng 0,5 độ C. Tháng 2/2022, tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ phổ biến thấp hơn TBNN 0,5 độ C, các khu vực khác ở mức xấp xỉ so với TBNN. Từ tháng 3-6/2022, nhiệt độ trên cả nước phổ biến xấp xỉ TBNN; riêng tháng 6/2022 khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ phổ biến cao hơn 0,5 độ C so với TBNN. Các đợt rét đậm, rét hại xuất hiện chủ yếu trong giai đoạn từ nửa cuối tháng 1 đến tháng 2 năm 2022 với thời gian không kéo dài.

Do đó, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển ngành tôm năm 2022, góp phần thành công trong triển khai Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời, để tận dụng tiềm năng, lợi thế ngành tôm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu,…, Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn khung lịch mùa vụ thả giống nuôi tôm nước lợ năm 2022 cho các địa phương.

Theo đó, đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế, về nuôi tôm sú, thả giống từ tháng 3 đến tháng 9. Với nuôi tôm thẻ chân trắng, nuôi chính vụ thả giống từ tháng 3 đến tháng 8; nuôi tôm vụ đông, thả giống từ tháng 9 đến hết tháng 12 (áp dụng đối với vùng nuôi có cơ sở hạ tầng tốt, môi trường nước ổn định, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật nuôi tôm vụ đông).

Đối với các tỉnh từ Đà Nẵng đến Phú Yên, với tôm sú, thả giống từ tháng 2 đến tháng 7. Với tôm thẻ chân trắng, thả giống từ tháng 2 đến tháng 8.

Đối với các tỉnh từ Khánh Hòa đến Bình Thuận, về tôm sú, nuôi thâm canh, bán thâm canh thả giống từ tháng 3 đến tháng 8. Nuôi quảng canh, thả giống từ tháng 3 đến tháng 8 (vùng nuôi có điều kiện cơ sở hạ tầng, nguồn nước đảm bảo có thể thả giống đến hết tháng 9). Đối với tôm thẻ chân trắng, thả giống từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2022 (vùng nuôi ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt, điều kiện cơ sở hạ tầng, nguồn nước đảm bảo có thể thả giống đến tháng 12).

Đối với các tỉnh Đông Nam bộ, tôm sú nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, thả giống từ tháng 2 đến tháng 7. Nuôi kết hợp tôm sú với cua, cá, nuôi tôm rừng, thả giống từ tháng 12/2021 đến tháng 8 năm 2022. Với tôm thẻ chân trắng, thả giống từ tháng 2 đến tháng 8 (vùng nuôi có điều kiện hạ tầng đảm bảo có thể thả giống đến tháng 10).

Ngoài ra, đối với các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tôm sú nuôi thâm canh, bán thâm canh, thả giống từ tháng 2 đến tháng 10. Nuôi kết hợp tôm sú với cua, cá; nuôi tôm rừng, thả giống quanh năm. Tuy nhiên để đảm bảo an toàn dịch bệnh, người nuôi cần ngắt vụ để cải tạo ao, diệt mầm bệnh ít nhất 1 lần/năm. Với nuôi luân canh tôm – lúa, thả giống từ tháng 1 đến tháng 5. Với tôm thẻ chân trắng, thả giống từ tháng 2 đến tháng 10.

Các địa phương có cơ sở nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao; cơ sở hạ tầng đảm bảo không chịu ảnh hưởng của thời tiết; chủ động kiểm soát hoàn toàn các yếu tố môi trường, dịch bệnh có thể thả giống quanh năm.

Trên cơ sở này, Tổng cục Thủy sản đề nghị các địa phương căn cứ vào khung mùa vụ chung và tình hình thực tế ở từng địa phương để xây dựng lịch mùa vụ thả giống nuôi tôm nước lợ cụ thể, phù hợp cho từng vùng sinh thái trên địa bàn. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với các địa phương phổ biến lịch mùa vụ, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý tốt việc thả giống, điều chỉnh lịch thời vụ kịp thời khi có yêu cầu để phù hợp với thực tế sản xuất.

Khuyến cáo các cơ sở, vùng nuôi liên kết với Hiệp hội tôm giống, cơ sở sản xuất giống, cơ sở sản xuất, cung ứng thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường có uy tín để có con giống và vật tư chất lượng tốt phục vụ sản xuất. Hướng dẫn người nuôi thực hiện quy trình nuôi 2-3 giai đoạn, thả giống cỡ lớn để nuôi thương phẩm. Bên cạnh đó, tổ chức kiểm soát tốt chất lượng, điều kiện của cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống, thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường, điều kiện nuôi tôm nước lợ,…


Giá trị sản xuất thủy sản của Kiên Giang tăng gần 4% so với năm ngoái

Giá trị sản xuất thủy sản năm 2021 của tỉnh Kiên Giang đạt hơn 32.687 tỷ đồng, đạt 98,7% kế hoạch, tăng gần 4% so năm 2020 trong khi tổng sản lượng tăng 2,2% so với năm ngoái.

Mặc dù dịch COVID-19 bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của người dân và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhưng giá trị sản xuất thủy sản năm 2021 của tỉnh Kiên Giang đạt hơn 32.687 tỷ đồng, đạt 98,7% kế hoạch, tăng gần 4% so năm 2020.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, năm 2021, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của tỉnh khoảng 854.330 tấn, vượt 6,9% kế hoạch, tăng 2,2% so với năm 2020, gồm sản lượng khai thác hải sản 568.860 tấn và nuôi trồng thủy sản 285.470 tấn, trong đó tôm nuôi nước lợ 104.694 tấn.

Hoạt động khai thác hải sản năm 2021 của tỉnh Kiên Giang rất khó khăn, không chỉ do suy kiệt nguồn lợi thủy sản trên ngư trường mà giá xăng, dầu, vật tư, ngư lưới cụ đánh bắt hải sản tăng cao làm cho chi phí hoạt động khai thác đánh bắt tăng lên.

Trong khi đó, giá sản phẩm khai thác thiếu ổn định theo hướng giảm nhiều hơn tăng. Điều này dẫn đến hiệu quả khai thác đánh bắt thấp, thậm chí thua lỗ nên số tàu cá nằm bờ khá nhiều; một số ngư dân không thiết tha bám biển và tàu cá của ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn còn xảy ra.

Do vậy, tỉnh tăng cường quản lý tàu cá và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác xuất khẩu vào thị trường châu Âu cho một số doanh nghiệp.

Đến nay, tỉnh đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình 3.632 tàu cá và đang tiếp tục hoàn thành lắp đặt cho tàu cá còn lại trong năm nay; tăng cường tuần tra, kiểm soát chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), nỗ lực gỡ cảnh báo "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu; tuần tra kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vi phạm quy định về quản lý khai thác đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Đặc biệt, nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt sản lượng khá cao, tăng so với năm 2020 trên cả 3 nhóm thủy sản là cá, tôm và thủy sản khác; riêng tôm nuôi nước lợ tăng 12,5%, tăng hơn 11.704 tấn so với năm 2020, vượt 6,8% kế hoạch năm.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Trọng Thao cho biết trong nuôi trồng thủy sản, tỉnh phát triển nhanh hình thức nuôi tôm công nghiệp-bán công nghiệp với diện tích hiện nay hơn 5.000ha, sản lượng hơn 31.320 tấn/năm.

Ngoài ra, tỉnh phát triển mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn tại các huyện Hòn Đất, Kiên Lương, An Minh và thành phố Hà Tiên, năng suất trung bình hơn 24 tấn/ha, lợi nhuận bình quân 280 triệu đồng/ha/vụ. Đây là mô hình mang lại thu nhập cao cho nông dân và tạo ra sản phẩm phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại, chất lượng cao và bền vững.

Bên cạnh đó, tỉnh chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả, không đảm bảo nguồn nước ngọt tưới tiêu sang mô hình sản xuất tôm-lúa và nuôi tôm quảng canh cải tiến.

Mô hình tôm-lúa được xem là "mô hình sản xuất thông minh" trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, đem lại 2 nguồn lợi kinh tế cho nông dân là lúa và tôm trên cùng một đơn vị diện tích sản xuất từ 50 triệu đồng/ha tăng lên từ 100-130 triệu đồng/ha.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, trong tình hình dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp và khó lường, tỉnh phấn đấu tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2022 đạt từ 94% đến tương đương năm 2021.

Để đạt mục tiêu này, tỉnh tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Tỉnh khuyến khích đầu tư và hỗ trợ phát triển nghề nghề nuôi trồng thủy sản, nuôi ven biển, ven đảo và nuôi biển theo hướng bền vững, nhất là chú trọng nuôi tôm công nghiệp, nuôi cá lồng bè trên biển và một số loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao.

Hơn nữa, trên lĩnh vực khai thác đánh bắt hải sản, tỉnh hướng đến khai thác xa bờ, giảm dần đánh bắt ven bờ, nâng cao hiệu quả nghề này gắn liền với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững trên ngư trường. Tỉnh triển khai quyết liệt đồng bộ các giải pháp khắc phục "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu.


Thái Lan: Giá tôm tiếp tục tăng trong tuần 50

Giá giao ngay tôm chân trắng nguyên liệu tại Thái Lan tăng với tất cả các cỡ trong tuần 50.

Giá tại đầm tôm cỡ 60 con tăng 5 THB lên 182,5/kg trong tuần 50, giá tôm cỡ 70 và 80 con/kg tăng lên 172,50 THB/kg và 162,50 THB/kg.

Tính theo USD, giá tôm đạt 5,47 USD/kg với tôm cỡ 60 con, 5,17 USD/kg với cỡ 70 con và 4,87 USD/kg với cỡ 80 con trong tuần 50.

So với các nước sản xuất lớn khác, giá tôm cỡ 60 con của Thái Lan cao thứ hai thế giới sau Trung Quốc. Giá tôm cỡ 60 con của Trung Quốc tiếp tục đạt cao nhất với 7,93 USD/kg trong tuần 48.

Giá tôm Thái Lan đã vượt giá tôm Indonesia. Giá tôm Indonesia đã giảm xuống 4,40 USD/kg sau khi đuổi kịp giá tôm cỡ 50/60 và 60/70 con/kg của Ecuador và tương đương với giá tôm tại khu vực sản xuất tôm chính của Ấn Độ, Andhra Pradesh một vài tuần trước đó.


Xuất khẩu tôm ở Sóc Trăng tăng 9%

Mùa vụ nuôi tôm nước lợ năm 2021 của tỉnh Sóc Trăng được ngành nông nghiệp Sóc Trăng đánh giá là cơ bản thành công cả về diện tích, sản lượng và giá trị xuất khẩu du tỉnh gặp khó do dịch COVID-19.

Ông Huỳnh Ngọc Nhã, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cho biết, vụ tôm năm nay, nhiều mô hình tiên tiến, ứng dụng công nghệ cao được phát triển và nhân rộng, mang lại hiệu quả kinh tế.

Toàn tỉnh có hơn 4.000 ha nuôi tôm theo mô hình ao nổi, ao bạt và các mô hình sản xuất theo hướng thâm canh, siêu thâm canh và công nghệ cao.

Ngoài ra, các nhà máy chế biến trên địa bàn tỉnh cũng hoạt động rất là linh hoạt, thích ứng nhanh trong điều kiện ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Kim ngạch xuất khẩu của ngành tôm 2021 đạt trên 910 triệu USD, tăng khoảng 9% so với năm 2020.
Năm 2021, diện tích thả nuôi tôm nước lợ của tỉnh đạt 53.000 ha, vượt gần 4% kế hoạch; trong đó, tôm thẻ chân trắng là 40.000 ha và tôm sú 13.000 ha. Diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh chiếm trên 93%.

Theo đó, tỷ lệ thiệt hại chỉ chiếm khoảng 6%, giảm khoảng 2% so với cùng kỳ. Ước sản lượng tôm nuôi đến cuối năm đạt trên 183.000 tấn, vượt 6,5% kế hoạch và cao hơn 17,8% so với cùng kỳ năm 2020.

Riêng về tình hình giá tôm, trong những tháng đầu năm, giá tôm luôn ở mức khá cao so với cùng kỳ năm trước. Nhưng trong tháng 7 và tháng 8 là khoảng thời gian dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, địa phương thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, giá tôm liên tục giảm và ở mức thấp.

Tuy nhiên, từ đầu tháng 9 đến nay giá tôm nguyên liệu bắt đầu tăng trở lại. Đây là một tín hiệu khả quan và đã phát huy hiệu quả tốt trong chỉ đạo sản xuất và phòng chống dịch bệnh của ngành nông nghiệp.

Trong năm 2022, tỉnh Sóc Trăng đặt mục tiêu sẽ thả nuôi tôm nước lợ 51.000 ha với sản lượng 196.000 tấn. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh sẽ tập trung những hộ nuôi nhỏ lẻ với nhau thành các hợp tác xã, tổ hợp tác theo hướng tập trung, hợp tác, liên kết thành các vùng sản xuất nguyên liệu lớn liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào gắn với thị trường tiêu thụ theo chuỗi giá trị.

Tỉnh sẽ đẩy mạnh việc nhân rộng mô hình nuôi có hiệu quả để người dân ứng dụng vào sản xuất, nuôi ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm giá thành sản xuất… để nâng cao giá trị và phát triển bền vững.


Ngành tôm chủ động tiếp cận thị trường

Tại Hội nghị trực tuyến “Giải pháp phát triển nuôi tôm tháng cuối năm 2021 và kế hoạch triển khai năm 2022” do Bộ NN&PTNT tổ chức hôm nay (10/12), nhiều đại biểu cho rằng, sản xuất an toàn và tận dụng tốt cơ hội từ thị trường xuất khẩu là yêu cầu bắt buộc đối với ngành hàng tôm hiện nay.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, xuất khẩu tôm năm nay sẽ cán đích ở mức gần 3,9 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2020 và dự báo năm 2022 sẽ tăng khoảng 10%, đạt kim ngạch xuất khẩu 4,3 tỷ USD.

Bà Lê Hằng, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho biết: “Tôm Việt Nam có thế mạnh về thị phần và lợi thế về chất lượng so với các đối thủ cạnh tranh. Hiện nay, tại những thị trường lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh và Australia, dù có nhiều đối thủ cạnh tranh nhưng tôm chân trắng và tôm sú xuất khẩu của Việt Nam luôn có vị trí số 1 nhờ chất lượng ổn định, từ tôm nguyên liệu đông lạnh đến các sản phẩm chế biến đa dạng, phù hợp với mọi phân khúc thị trường”.

Theo bà Hằng, các doanh nghiệp thủy sản nói chung, ngành hàng tôm nói riêng cần chú trọng đảm bảo an toàn cho sản xuất, việc này tốn nhiều công sức và chi phí nhưng rất cần thiết. Bên cạnh đó, phải theo dõi diễn biến tình hình thị trường, nhu cầu cũng như năng lực các quốc gia là đối thủ cạnh tranh để chủ động tìm bước đi phù hợp với hoàn cảnh, thúc đẩy nhanh nhất việc phục hồi sản xuất an toàn, tiến tới ổn định, phát triển lâu dài.

Để phát triển ngành tôm, ông Võ Quang Huy, Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An đề xuất Bộ NN&PTNT: “Các thị trường kiểm soát rất chặt chẽ đối với tôm Việt Nam, vì vậy cần thường xuyên cập nhật các yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Bên cạnh đó, kiểm soát vật tư và nguyên liệu đầu vào cho chế biến xuất khẩu để phòng tránh dịch bệnh lây lan đối với tôm nuôi trong nước. Ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển các ứng dụng để nông dân cũng như doanh nghiệp có thể nắm rõ yêu cầu của các thị trường và đề xuất những khó khăn trong quá trình nuôi, qua đó các đơn vị chuyên ngành, nhà khoa học kịp thời thông tin hỗ trợ để tháo gỡ những vướng mắc về giải pháp kỹ thuật”.

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến nêu rõ, thị trường thuận lợi, giá tôm có xu hướng tăng cao là yếu tố quan trọng để ngành tôm Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu tôm tận dụng tốt cơ hội nhanh chóng phục hồi sau đợt giãn cách xã hội kéo dài. Việc Việt Nam đang tham gia 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới cũng là cơ hội thuận lợi để nâng cao năng lực tổ chức sản xuất đảm bảo theo chuỗi, truy xuất được nguồn gốc từ con giống, thức ăn chăn nuôi, thú y phòng bệnh, an toàn sinh học đến thu hoạch, sơ chế và chế biến phục vụ xuất khẩu.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nêu rõ, để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành tôm thì năng suất và chất lượng là 2 yếu tố then chốt. Vì vậy phải chú trọng các yếu tố nguyên liệu đầu vào đặc biệt là con giống, hạ tầng trong chuỗi sản xuất tôm.

“Trên cơ sở đánh giá chung về thị trường, các nhà sản xuất, doanh nghiệp chế biến cần chuẩn bị những giải pháp kỹ thuật và xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường một cách chủ động hơn. Dù khó khăn do biến đổi khí hậu, dịch COVID-19, nông sản Việt Nam nói chung và ngành tôm nói riêng sẽ vượt qua thách thức, phấn đấu đạt mục tiêu năm 2022 ngành tôm đạt sản lượng 980.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu từ 3,9 đến 4,1 tỷ USD”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.


Tôm, Cua ở miền Tây tăng giá cuối vụ

Sau một đợt tăng giá khi các tỉnh áp dụng Nghị quyết 128, giá cua biển và tôm ở miền Tây tiếp tục đi lên. Hiện, tôm sú, thẻ, càng xanh ở khu vực này đang vào giai đoạn cuối vụ.
Chiều 23/11, giá tôm thẻ tại Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu tăng từ 1.000-3.000 đồng/kg. Cụ thể, loại 30 con/kg từ 164.000 đồng tăng lên 167.000 đồng, 50 con/kg giá 137.000 đồng, 100 con/kg giá 102.000 đồng… So với lúc cao điểm của dịch Covid-19, mỗi kg tôm đã tăng thêm 35.000-45.000 đồng.

Đối với tôm thẻ loại lớn, giá ổn định nhiều ngày qua. Trong đó, tôm 20 con/kg giá duy trì ở mức 240.000 đồng/kg; loại 25 con giá 180.000 đồng/kg.

Tại xã Đại Ngãi, huyện Long Phú (Sóc Trăng), các vựa thủy sản ven sông Hậu bán tôm càng xanh tươi sống loại nhất (6-7 con/kg) giá 300.000 đồng/kg; loại 13-14 con/kg giá 240.000 đồng.

Chủ vựa hải sản Đặng Ngọc Trinh cho biết những hôm khách đặt nhiều để đãi đám tiệc, chị “vèo” lại tôm tươi sống nên phụ thu thêm 20.000 đồng/kg. Đối với tôm càng xanh ướp đá, người tiêu dùng ít sử dụng vì thịt mất ngon nên giá rẻ.

Trước thông tin tôm càng xanh ở TP.HCM hiện được chào giá 110.000-150.000 đồng/kg, chủ một vựa tôm ở Bạc Liêu cho hay đây là tôm ướp đá nên mới có mức giá vậy. “Giá này vẫn bị coi là cao, bởi người miền Tây không thích ăn tôm ướp đá. Giá tôm càng xanh tươi sống nhiều tháng nay không giảm, chỉ tăng nhẹ”, chủ vựa này nói.


Bổ sung enzyme cần thiết giúp duy trì và ổn định men đường ruột

NEW ENZYM LÀ SẢN PHẨM HỆ ENZYME GIÚP TĂNG HIỆU QUẢ KHI PHỐI TRỘN MEN TIÊU HÓA, CÁC CHẤT DINH DƯỠNG. MEN VI SINH LÀM SẠCH ĐÁY AO BỊ ĐEN.

Công dụng:
– Bổ sung enzyme cần thiết giúp duy trì và ổn định men đường ruột, tạo mùi thơm đặc biệt hấp dẫn, kích thích bắt mồi.
– Giúp hấp thu toàn bộ chất dinh dưỡng khi phối hợp với men tiêu hóa, giúp đường ruột khỏe, tăng trọng nhanh.
– Sản phẩm chứa enzyme hữu ích giúp làm trắng, sạch đáy ao khi có bùn đen.

No comments:

Post a Comment

Popular Posts







Vi Sinh Thủy Sản | Kỹ Thuật Thủy Sản | Thuốc Thú Y | Thuốc Tôm Cá Ếch | Thuốc Thủy Sản LV | Rap Việt | Giá Tôm Cá Pinterest | Bảng Giá Tôm Cá | Việc Làm Thủy Sản | Bảng Giá Heo Hơi | Privacy Policy